In

 :: Chương trình Đoàn kết Ngành nước tại tỉnh Ninh Bình (2003-2010)

 

> Cải thiện điều kiện, cơ sở y tế-xã hội cho người dân tỉnh Ninh Bình

Năm 2003, EAST Việt Nam đã tiến hành điều tra tại nhiều tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng để đánh giá nhu cầu về nước sạch và vệ sinh môi trường của người dân sống tại vùng đồng bằng rộng lớn này. Sau đó EAST Việt Nam đã quyết định hỗ trợ cho những nỗ lực phát triển của tỉnh Ninh Bình, một tỉnh nằm cách Hà Nội khoảng 100 km về phía nam.

Ninh Bình là một tỉnh tương đối nhỏ, được chia làm 3 vùng địa lý: vùng núi, vùng đồng bằng trồng lúa và vùng duyên hải. Tỉnh có 145 xã với gần 1 triệu dân chủ yếu làm về nông nghiệp. 86% dân số sống ở khu vực nông thôn và thu nhập chủ yếu là từ nông nghiệp và lâm nghiệp.Thu nhập bình quân theo đầu người của tỉnh vào khoảng 200euro/năm, ở nông thôn mức thu nhập bình quân chỉ chưa đầy 150euro/năm. Ở các vùng núi thường tập chung dân nghèo, với đa phần là người dân tộc thiểu số. Năm 2003, người dân của gần 100 xã trong tỉnh vẫn chưa có nước sạch sinh hoạt, thường phải sử dụng nước giếng, nước mưa hoặc là nước ở các sông suối gần nhà. Bên cạnh đó điều kiện ytế của người dân cũng rất đáng lo ngại, hoạt động vệ sinh môi trường thì chưa phát triển.

Tháng 11 năm 2003, EAST đã kí kết một hiệp định hợp tác với UBND tỉnh Ninh Bình. Đây là hiệp định hợp thức hoá việc thực hiện Chương trình Đoàn kết Ngành nước (PSE), một chương trình có qui mô lớn kéo dài trong nhiều năm. Chương trình này sẽ đem lại lợi ích cho người dân của nhiều xã và cho cả các cơ quan phụ trách về nước và về phát triển nông thôn của tỉnh.

Cụ thể là PSE giúp cải thiện điều kiện ytế-xã hội của người dân tại nhiều xã trong tỉnh thông qua hệ thống cung cấp nước sạch tới các hộ gia đình và nâng cao ý thức của người dân (người lớn và trẻ em) về vệ sinh và môi trường.

Ở phạm vi tỉnh, PSE giúp các cơ quan của tỉnh tăng cường khả năng quản lý và theo dõi chất lượng nước, qua đó đảm bảo hiệu quả lâu dài cho các công trình thuỷ lợi trong tỉnh.

Một phần ba số vốn của chương trình này do chính người dân đóng góp, họ sẽ trả tiền cho việc kết nối hệ thống cung cấp nước sạch với nhà mình. Một phần ba là thuộc ngân sách của tỉnh Ninh Bình và phần còn lại do phía Pháp đóng góp. Cùng với sự cộng tác của Chi cục phát triển nông thôn tỉnh Ninh Bình, và của các bên liên quan (tỉnh, huyện, xã và thôn), EAST Việt Nam là đơn vị chịu trách nhiệm về việc thực hiện chương trình này.

 

> Cấp nước sạch cho xã Ninh Vân và thôn Chi Phong (2004-2006)
 
Những người được hưởng lợi đầu tiên của Chương trình PSE là người dân xã Ninh Vân và thôn Chi Phong, thuộc xã Trường Yên, huyện Hoa Lư.
Bắt đầu triển khai năm 2004, tới quý 1 năm 2006 cả 2 mảng chính của chương trình đều đã  hoàn thành. Tại thôn Chi Phong, một trạm và một hệ thống lọc nước mini đã được xây dựng và cung cấp nước cho 1.330 người dân. Còn dự án ở Ninh Vân đã xây dựng được một trạm xử lý nước và một hệ thống cung cấp nước cho khoảng 10.000 người.

Diễn ra đồng thời với 2 dự án này là rất nhiều hoạt động thông tin, giáo dục và truyền thông (IEC) được tổ chức với sự tham gia của các tuyên truyền viên địa phương. Các hoạt động này đã giúp tăng số hộ gia đình đăng kí sử dụng nước sạch. Dù việc lắp đặt đường ống dẫn nước về từng hộ đòi hỏi một số tiền không nhỏ, song ngay từ tháng đầu tiên trạm cấp nước sạch đi vào hoạt động, đã có gần 80% hộ dân đăng kí. Và năm 2007, một năm sau khi dự án hoàn thành, một cuộc điều tra về y tế đã được thực hiện.Mục đích của cuộc điều tra là đánh giá tác động, ảnh hưởng của hoạt động tuyên truyền về vệ sinh, môi trường tới việc xây dựng nhà tắm và nhà vệ sinh tự hoại.

 

 
 Image
Đường ống nước, trạm bơm, và một phần các trang thiết bị cung cấp nước sạch tại Ninh Vân 
 
 Image
 Công trường xây dựng tại Chi Phong, bảo trì và lắp đặt hệ thống đường ống
 


> Cấp nước sạch cho xã Yên Mạc và Phú Lộc (2005-2007)

 

Năm 2005, UBND tỉnh Ninh Bình đã lựa chọn 2 xã để thực hiện dự án thuộc chương trình PSE là xã Yên Mạc (8 000 dân), huyện Yên Mỗ và xã Phú Lộc (7 000), huyện Nho Quan. Cả 2 trạm cấp nước sạch mới đều đã được khánh thành vào 2 quí đầu năm 2007 trong niềm hân hoan của người dân. Học sinh của 2 trường tiểu học ở Yên Mạc và Phú Lộc cũng đã được tham gia vào các khoá học về sức khoẻ theo tài liệu và phương pháp giảng dạy mà EAST đề xuất. Phương pháp này nhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về vệ sinh, và đã được mọi người đánh giá rất cao: giáo viên và học sinh đều thực sự hứng thú với những bài học đơn giản và khuyến khích được sự tham gia của người học. Cũng như ở các xã mà EAST tham gia dự án, rất nhiều hoạt động tuyên truyền cũng đã  được tổ chức để khuyến khích nhiều người hơn nữa tham gia và hưởng lợi từ dự án.

 

 
Image
Dựng cột điện  ở Phú Lộc, bình hoá chất ở Yên Mạc và công trường xây dựng trạm cấp nước ở Phú Lộc.
 
Image
Các trạm cấp nước của Yên Mạc và Phú Lộc, và một trong số rất nhiều đồng hồ nước đã được lắp tại 2 xã này.
 
 
 
> Cung cấp nước sạch cho xã Lạng Phong (2006-2008)

Năm 2006, xã thứ tư của tỉnh Ninh Bình được lựa chọn là xã Lạng Phong, huyện Nho Quan. Dự án hiện cung cấp 5 000 người được sử dụng nước sạch tại nhà.
Khoảng 15 tuyên truyền viên đã được tập huấn tại xã năm 2007 và đã thực hiện các hoạt động tuyên truyền tại nhà dân để vận động người dân tham gia vào dự án. Bên cạnh các hoạt động này trẻ em trong xã cũng được tham gia các buổi học giáo dục sức khoẻ tại trường.
 

 Image
Tập huấn cho các tuyên truyền viên về hoạt động thông tin, giáo dục và truyền thông (IEC)
 
Image 
Một tiết học về vệ sinh tại trường tiểu học xã Lạng Phong
 

 
> Cấp nước sạch cho xã Gia Phú (2007-2010)

Gia Phú là xã cuối cùng hưởng Chương trình đoàn kết ngành nước II tại tỉnh Ninh Bình. Gia Phú thuộc huyện Gia Viễn. Công trình đã được nghiệm thu vào ngày 02 tháng 02 năm 2010. Hiện nay công trình cấp nước cho 6500 người dân, tức là khoảng hơn 1 500 hộ.

Trong suốt thời gian thực hiện dự án, hoạt động truyền thông IEC đã giúp tuyên truyền vận động cho người dân của 3 thôn của xã Gia Phú để huy động họ tham gia các hoạt động khác nhau của dự án. Các hoạt động thực hiện được tiến hành theo cách mọi người cùng tham gia, nhờ vào đó tạo nên sự thay đổi tự nguyện và bền vững những thói quen vệ sinh của người dân. Tổng số có 13 tuyên truyền viên đã được tập huấn.

Dự án đã khuyến khích người dân xây dựng các công trình vệ sinh, nhà tắm, hố thấm, chuồng trại chăn nuôi và rãnh thoát nước thải. Mười nhà vệ sinh mẫu đã được tài trợ xây dựng. Mỗi thôn được hưởng một công trình mẫu này. Những mô hình này khuyến khích người dân xây dựng các nhà vệ sinh chất lượng tại gia đình họ.
Tại xã Gia Phú, các nhà vệ sinh và các điểm cấp nước sạch đã được triển khai tại trường tiểu học, trường PTCS và trường THCS. Hơn nữa, các tiết học giáo dục sức khỏe cũng được tổ chức giảng dạy tại các trường để cải thiện hành vi vệ sinh và sức khỏe cho trẻ em. Những tiết học có tính tham gia này đề cập sử dụng nhà vệ sinh, sửa tay xà phòng, thu gom nước thải…
 
ImageImageImage 
 Xã Gia Phú, trường học, công trình cấp nước sạch
 
> Kiểm soát chất lượng nước trên qui mô tỉnh
 
Ngay từ năm đầu tiên thực hiện Chương trình (2004) EAST đã giúp xây dựng một phòng thí nghiệm phân tích nước tại trụ sở của Chi cục phát triển nông thôn, một cơ quan chuyên trách về cung cấp nước sạch của tỉnh Ninh Bình. Hiện phòng thí nghiệm đã đi vào hoạt động với nhiệm vụ theo dõi chất lượng nước của các trạm cấp nước trong tỉnh. 4 nhân viên phòng thí nghiệm vẫn thường xuyên tiến hàng phân tích nước tại 52 trạm trên địa bàn tỉnh và chuyển kết quả phân tích cho các xã. EAST Việt Nam vẫn phối hợp chặt chẽ với Chi cục phát triển nông thôn để có hỗ trợ và tư vấn tốt nhất cho các xã trong trường hợp kết quả phân tích có vấn đề. Chất lượng nước hay đúng hơn là độ sạch và an toàn của nước là vấn đề quan tâm hàng đầu của EAST trong tất cả các dự án hợp tác dù lớn hay nhỏ (tỉnh, xã, người dân). Đây cũng chính là một trong những thách thức lớn của Việt Nam trong những năm tới.
 
 Image
Kiểm tra chất lượng nước tại các trạm cấp nước của tỉnh